Một ngày của năm 1989, không nhớ là ngày nào, hay cũng không phải là năm 1989 nữa, tôi bỗng nảy ra ý tưởng thành lập một ban hợp xướng, thuở đó thường gọi là ca đoàn.
Lúc trẻ ở Saigon tôi không hát trong một ca đoàn nào cả mà lại đi hát du ca. Tuy vậy tôi vẫn biết đến và thán phục các anh chị trong ca đoàn Trùng Dương. Chả là vì bà chị tôi và người yêu của chị đều hát trong Trùng Dương và tôi thường được gặp các anh chị ca viên cũng như tham dự các buổi trình diễn của họ. Tôi cũng thường được nghe kể chuyện về những “nhân vật lớn” của ca đoàn, nào là anh Trần Văn Quí, anh Nguyễn Hoàng Hương, anh Trần Chúc, anh Lê Văn Khoa, chị Phan Hằng... nhiều người nữa mà tôi đã quên tên. Những nhân vật này được tôi ngưỡng mộ vô bờ, tôi nghĩ về họ như những tầng lớp tài ba và quí hóa của Saigon thuở ấy. Có lẽ vì thế, giờ đây tôi muốn tái lập một đoàn thể tương tự, tập hợp những nhân vật tương tự. Như một cách sống lại thời tuổi trẻ.
Mà cũng có một nguyên nhân khác: tôi được chị Tuyết Long, người điều khiển trường Hồng Bàng, giới thiệu anh Trần Anh Linh, một người giỏi nhạc, đã tốt nghiệp từ đại học Miami với bằng Thạc Sĩ Âm Nhạc. Anh Linh vừa mới qua Mỹ, để lại gia đình ở Việt Nam. Anh có nhiều thì giờ để giúp tôi thực hiện những ước mơ của mình.
Thế là một ca đoàn chưa có tên được thành lập với những ca viên đầu tiên là các thầy cô của trường Việt ngữ Hồng Bàng, nơi tôi đem con đến học tiếng Việt. Anh Trần Anh Linh trở thành ca trưởng đầu tiên của ca đoàn. Anh Linh là một người vui vẻ, điềm đạm và dĩ nhiên là rất giỏi nhạc. Anh đưa ra hai ca khúc mà anh đã viết và soạn bè cho hợp ca: bài Hè Về và bài Tát Nước Đầu Đình. Vâng, bài hợp xướng đầu tiên mà Ngàn Khơi hát chính là bài Hè Về. Thuở ấy ca đoàn gồm toàn những tiếng hát còn non mùi sữa, tiếng ngân còn vụng về vì có ai biết hát đâu, hát bè thì lại càng chưa. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy rất thương anh Linh vì anh đã phải chăn dắt những tiếng hát... quờ quạng, ngơ ngác. Anh tập họp mọi người mỗi cuối tuần, miệt mài tập luyện. Nhưng anh hiền lành quá, nói ít ai nghe. Vài tháng sau đó, gia đình anh qua Mỹ xum họp. Chúng tôi không có dịp được hát dưới sự điều khiển của anh nữa vì anh và gia đình đã quyết định dọn nhà đến tiểu bang xa lập nghiệp. Anh Trần Anh Linh đã mất khoảng 15 năm sau đó.
May thay, tình trạng hát quờ quạng không kéo dài lâu. Chị và anh rể tôi là chị Ngọc Sương và anh Vũ Duy Hiển, sau khi nghe tôi nói về ca đoàn không tên mới thành lập, đã liên lạc ngay với anh Trần Chúc và anh Lê Văn Khoa, hai ca trưởng xưa của Trùng Dương. Và có lẽ ý Trời đã định, lúc này anh Trần Chúc đang rảnh rỗi sau thời gian tập luyện cho một ca đoàn nhà thờ. Nghe nói anh rất... khó tính về âm nhạc nhưng đã có được một số ca viên trẻ biết đánh giá đúng sự khó tính ấy nên có khả năng hát hợp ca rất khá. Anh Lê Văn Khoa thì không có giờ để tập cho ca đoàn nhưng anh có sẵn một số khá lớn những ca khúc anh đã soạn bè cho hợp xướng và phối khí cho dàn nhạc giao hưởng.
Và một buổi chiều cuối tuần, anh Trần Chúc kéo “quân” của anh đến, ôi quí hóa quá, có đến vài giọng bass (giọng nam trầm), vài giọng tenor (nam cao), vài giọng alto (nữ trầm) và vài giọng soprano (nữ cao). Cộng thêm anh chị của tôi là những giọng hợp ca đầy kinh nghiệm, chuyên trị bè alto và bè bass. Ca đoàn khởi sắc thấy rõ. Các giọng chủ lực rất quan trọng, vì các giọng tơ lơ mơ có chỗ dựa nên sẽ bớt quờ quạng hơn nhiều.
Dưới “triều đại” của anh Chúc, không ai có quyền hát một cách lờ mờ được. Anh chia ra 4 nhóm, mỗi nhóm có một trưởng bè, để tập trước từng bè một, sau đó mới “ráp” lại dưới sự điều khiển của anh.
Lần đầu tiên, tôi được nghe những danh từ “lạ tai”: voice production, passaggio, giọng cổ, giọng óc, vibrato, tremolo, hit the note, không láy bậy, mở miệng theo chiều dọc... Anh Chúc mỏi miệng giải thích và cho thí dụ. Anh là một nhân tài về conducting khá hiếm của chúng ta. Anh học nhạc từ ngôi trường Dòng Chúa Cứu Thế và tự học do lòng say mê âm nhạc, nhất là hợp xướng. Một công trình đáng kể của anh là hòa âm trọn trường ca Con Đường Cái Quan của Phạm Duy cho hợp xướng và dàn nhạc giao hưởng, sau đó chỉ huy Ngàn Khơi và dàn nhạc trình diễn nguyên trường ca này.
Khán giả xem hát hợp ca hay dàn nhạc giao hưởng thường không hiểu rõ lắm vai trò của người ca trưởng hay nhạc trưởng. Đối với họ, đó là một người diện thật kẻng chỉ để quay lưng lại khán giả, tay thì múa lên múa xuống rất vất vả và... vô trật tự. Thế thôi!
Nhưng thực ra, vài giờ xuất hiện trước khán giả để đánh nhịp chỉ là một phần rất nhỏ công việc rất nặng nề của người ca trưởng. Người ca (nhạc) trưởng là linh hồn của ban hát hay dàn nhạc, là người chọn chương trình, bài nhạc, cũng như “đọc và hiểu” được tâm tình của bài nhạc và truyền lại những thông tin ấy cho ca viên hay các nhạc công bằng những cử động của hai bàn tay, cánh tay, bờ vai và đôi khi cả thân người. Nơi các ca đoàn Việt Nam, ông còn có trách nhiệm dạy cho các ca viên hát nữa vì đa số các ca viên của các ca đoàn Việt thường chưa từng học hát, như tôi chẳng hạn. Từ nhỏ tới lớn tôi vẫn rất thích hát và thường là người “gào” to nhất. Nhưng hát đâu có nghĩa là “gào” lên cho to, nhất là hát hợp ca mà để “lòi” giọng mình ra thì sẽ không giống ai. Phải ở trong ca đoàn ít lâu tôi mới hiểu ra chuyện đó.
Anh Chúc rất hiểu rõ là anh phải dạy cho ca viên hát, từ cách lấy hơi cho đến cách mở miệng, từ cách phát âm cho đến cách ngân nga, đóng chữ... Vì thế nên ca đoàn miệt mài học mở miệng, đóng chữ. Tôi cũng vậy, và rất thích thú vì tính tôi là tính thích học hỏi.
Đối với ca trưởng Trần Chúc, hát là tất cả, nhất là hát hợp ca. Tất cả các ca viên đều rất hiểu sự say mê hợp xướng của anh. Nghe nói lúc trẻ anh chuyên leo lên gác nhà trọ để luyện thanh nhạc, khi đó còn rất xa lạ với dân Việt trong xóm nghèo. Họ nghe anh “vocalise” à a á a à mà bắt... sợ. Chẳng là vì khái niệm hợp ca cũng như luyện thanh còn mới mẻ đối với dân Việt nên họ chưa từng nghe ai luyện thanh cả, sợ là phải vì họ tưởng anh la báo động... cháy nhà.
Vâng, đó là cách các ca viên Ngàn Khơi học hát. May mắn cho ca đoàn là dù không có tiền mua đàn piano dành cho việc tập hát, ca đoàn vẫn có thể học được là vì anh Trần Chúc là một trong những ca trưởng hiếm hoi có khả năng “solfege” hay “sight singing”, tức là nhìn nốt nhạc là có thể hát lên đúng cao độ của nốt ấy. Thành ra anh chỉ cần cây “diapason” lâu lâu gõ lên trán để lấy cao độ của nốt “la” là sau đó có thể phăng ra tất cả các nốt khác.
Chúng tôi được học thêm nhạc lý, xướng thanh, luyện thanh... ngoài những giờ học bè, hát ráp toàn ban... Anh Linh lúc này vẫn còn ở quận Cam, đã tập cho ca đoàn bài “Tát Nước Đầu Đình”, và anh Chúc tập bài “Viễn Du” của Phạm Duy do anh Khoa hòa âm cho hợp xướng. Và đến tháng 4 năm 1989, chúng tôi đã mạnh dạn tham gia buổi nhạc gây quỹ giúp các trung tâm Việt Ngữ với cái tên rất hợp là “Hát Cho Ngày Mai” do ban tứ ca Thùy Dương tổ chức tại “nhà thờ tròn” ngay trung tâm Little Saigon với 2 bài hợp ca trên. Ca đoàn cần một cái tên ngay. Sau một buổi họp, tất cả đã chấp thuận tên “Ngàn Khơi” do anh Chúc đưa ra. Anh giải thích: ca đoàn là một tập họp của nhiều người từ nhiều hoàn cảnh, từ khắp muôn phương như nước biển của đại dương tập họp từ ngàn khơi.
Đến tháng 9 năm 1990, Ngàn Khơi, lúc này là một ban hợp xướng có qui củ, đã cùng anh Lê Văn Khoa tổ chức một buổi nhạc hòa tấu hợp xướng có qui mô chưa từng thấy của người Việt trên đất Mỹ. Buổi nhạc mang tên “Việt Nam Quê Hương Mến Yêu”, là “con đẻ” của sáng tác gia Lê Văn Khoa, người đi tiên phong trong mô hình những buổi diễn âm nhạc với dàn nhạc đại hòa tấu và ban đại hợp xướng. Anh Lê Văn Khoa đã soạn hòa âm và phối khí cho hầu hết những ca khúc trong chương trình.
Vào thuở ban sơ của cộng đồng tị nạn tại hạt Cam, có thể nói buổi nhạc “Việt Nam Quê Hương Mến Yêu” là một hiện tượng, với sự góp mặt của 50 ca viên, dàn nhạc giao hưởng 60 nhạc công điều khiển bởi các nhạc trưởng Larry Grossman, Lê Văn Khoa, và Trần Chúc, và dàn nghệ sĩ danh tiếng gồm nhạc sĩ Phạm Đình Chương, các danh ca Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương, Vũ Anh, ban tứ ca Thùy Dương... Chúng tôi không ngờ dân chúng quận Cam ủng hộ buổi nhạc đến thế, 1500 vé “sold out”.
Lần đầu tiên hát trên một sân khấu lớn, sân khấu rạp Plummer Auditorium ở Fullerton, còn rất xa lạ với dân chúng, chúng tôi ai nấy đều rất hồi hộp. Vài tuần cuối, anh Chúc cho tập nhiều mệt nghỉ, tuần 2 lần. Phần nhạc thì lúc ấy chưa có computer và các program chép nhạc, nhũng ca viên giỏi nhạc lý phải oằn người gánh nhiệm vụ chép nhạc, có khi suốt đêm. Bù lại, buổi hòa nhạc thành công tốt đẹp, ghi lại một kỷ niệm đẹp cho tất cả 50 ca viên có mặt, là lần cuối chúng ta gặp lại nhạc sĩ Phạm Đình Chương cũng như lần đầu cô Thái Thanh xuất hiện trở lại trên sân khấu lớn. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương qua đời mấy tháng sau đó. Gần đây nghe lại ca khúc “Đôi Mắt Người Sơn Tây” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương do cô Thái Thanh hát trong chương trình này, tôi không sao ngăn được xúc động. Giọng hát của cô lúc đó quá trong trẻo, quá điêu luyện và đầy cảm xúc, đã cất lên sau nhiều năm phải im tiếng dưới chế độ Cộng Sản. Thương nhớ cô làm sao!
Thừa thắng xông lên, ban hợp xướng Ngàn Khơi vẫn tiếp tục rèn luyện dưới sự hướng dẫn của anh Chúc. Lúc này, nơi tập họp để hát hằng tuần là phòng sinh hoạt của báo Người Việt và Ngàn Khơi cũng đã có được cây đàn piano của tòa báo để tập hát. Anh Trần Chúc được nhiều ca viên thương mến và ngưỡng mộ, trừ những người thích... nghe nói ngọt. Ca trưởng Trần Chúc có một tiêu chuẩn âm nhạc rất cao và không nhân nhượng. Anh sẵn sàng chỉ ra những khuyết điểm ca viên mắc phải và cách sửa. Nhờ vậy trình độ của ca viên ngày càng thăng tiến. Tôi là người học được rất nhiều từ ca trưởng Trần Chúc.
Ngàn Khơi và Trần Chúc đã tạo nên những tiếng vang đáng kể với những buổi hòa tấu hợp xướng lớn mỗi năm một lần và những buổi nhạc nho nhỏ khác. Tiếc thay, sau 15 năm gắn bó, nhạc trưởng Trần Chúc rời Ngàn Khơi.
Từ năm 2004 tới năm 2014, anh Vũ Tôn Bình là ca trưởng của Ngàn Khơi. Là một nhạc trưởng được đào tạo có bài bản trong các trường đại học Mỹ, anh Bình có bằng Doctor of Musical Arts về Conducting. Anh mang tới một luồng gió mới cho Ngàn Khơi, với cách điều hành và tập hát hoàn tòan mới. Tôi đã học hỏi ở anh rất nhiều nhờ đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn anh. Mời bạn đọc lại một bài phỏng vấn tiêu biểu để hiểu rõ hơn về hợp xướng.
Nói chuyện với nhạc trưởng VŨ TÔN BÌNH: Nghệ thuật hợp ca
Như An
Sau 37 năm tị nạn trên đất Mỹ, người Việt Nam đã có được một chỗ đứng khá vững vàng về phương diện kinh tế và gần đây đã tiến một bước khá dài trong lãnh vực chính trị. Về phương diện nghệ thuật, chúng ta cũng đã có những bước khai phá. Đó đây, ta có những thành công cá nhân trên lãnh vực hội họa trong dòng chính như họa sĩ Hương Alaska và họa sĩ giáo sư Nguyễn Quỳnh, chúng ta có những news anchors (tạm kể là thuộc về lãnh vực entertainment) thành công như Betty Nguyễn, Leyna Nguyễn... Ngay cả về nấu ăn ta cũng có “top chef”. Riêng về lãnh vực âm nhạc, ta hầu như chưa có ai thành công vượt bực nơi dòng chính tuy đã có một thế hệ nhạc sĩ và nghệ sĩ trình diễn trẻ đang dấn thân trên con đường này. Trong số những người hoạt động trong lãnh vực âm nhạc, có nhạc trưởng Vũ Tôn Bình là một người đã bền chí theo đuổi con đường âm nhạc từ nhiều năm qua với một “resume” đáng kể.
Nhạc trưởng Vũ Tôn Bình xuất thân từ trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon. Sau 1975, ông tị nạn tại Mỹ và bắt đầu đi học nhạc lại. Ông tốt nghiệp BA về Piano Performance, Cum Laude và Master of Music in Conducting tại trường Cal State Northridge. Sau đó ông đã tốt nghiệp Doctor of Musical Arts in Conducting tại The Claremont Graduate University. Tờ resume của ông dài 4 trang với một danh sách rất dài những tác phẩm cổ điển cũng như đương đại do nhiều dàn nhạc giao hưởng trình diễn mà ông đã điều khiển ở Mỹ cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới.
Hiện nhạc trưởng Vũ Tôn Bình đang là Music Director của First Presbyterian Church of Laguna Niguel. Từ tháng 8 năm 2004, ông là Music Director cho Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi.
Từ những buổi tập đầu tiên với ban Ngàn Khơi, nhạc trưởng Vũ Tôn Bình đã cho thấy là ông làm việc một cách nghiêm chỉnh, có nghiên cứu và suy tư rất kỹ càng về mọi vấn đề của hợp ca. Với lối phân tích cách phát âm trong những ca khúc Việt Nam thật rõ rệt và một phương pháp sư phạm có căn bản vững chắc cộng thêm lòng hăng say làm việc không ngừng, ông đã làm cho những ca viên rất thích thú và học hỏi rất nhiều.
Hỏi: Anh có nghiên cứu về nhạc hợp ca Việt Nam?
Đáp: Vâng. Cái luận án tiến sĩ của tôi có đề tài là nghiên cứu sự khác biệt giữa nhạc hợp ca Việt Nam và hợp ca Tây phương. Có một số người cho rằng Việt Nam mình không có nhạc hợp ca (choral music) nhưng tôi cho rằng nếu người Tây phương kể Gregorian Chants tức những bài bình ca hát trong nhà thờ Công giáo từ thế kỷ thứ 6 là choral music thì Việt Nam mình cũng có choral music vì mình có những nhóm hát thí dụ như hát quan họ...
Hỏi: Tức là từ xưa lắm rồi mình đã có choral music?
Đáp: Vâng, từ xưa.Thêm nữa, choral music của Gregorian Chants rất giống như ngâm thơ của Việt Nam tức là chỉ có vài nốt lên xuống và cấu tạo của bài nhạc dựa trên cái nhấn nhá của lời hát. Đem ngâm thơ và chant để bên cạnh thì rất là giống nhau. Mình lại có nhiều thể hát mà trong đó có nhiều người hát cùng một giọng hay 2,3 giọng, rất nhiều.
Hỏi: Có vài người cho rằng cổ nhạc Việt không có hòa âm nhiều nốt chồng lên nhau nên có thể nói là không có hợp ca, có đúng không?
Đáp: Đúng là Việt Nam mình không có lối hòa âm homophonic nghĩa là 4 giọng hát cùng một lúc cùng chữ, cùng nhịp đi theo nhau, chỉ khác cao độ. Nhưng Việt Nam mình có rất nhiều counter point. Nhạc thính phòng của Việt Nam có những chỗ mà tất cả các nhạc cụ phải tụ lại nhưng ở giữa thì mỗi nhạc cụ đi một bè riêng. Nếu so sánh với nhạc Tây phương thì đây chính là counter point. Nhạc Việt Nam mình, theo tôi, những hòa âm về homophonic thì chưa được hiệu quả lắm và rất khó vì dấu giọng của tiếng Việt. Nếu bè chính theo đúng dấu giọng thì các bè kia thường là bị sai dấu giọng hết. Nhưng phần counter point của nhạc Việt thì rất tốt vì thí dụ như bài nhạc có 3 giọng thì mỗi giọng là một melody khác nhau và có lời riêng. Tuy nhiên phần nhạc này đa số nằm trong loại âm nhạc bác học, nơi cung đình, ít có ở nhạc dân gian. Sở dĩ counter point không được phổ biến vì muốn nghe loại nhạc này, thính giả phải có khả năng nghe được một lúc 2, 3 dòng nhạc. Hai giọng thì nhiều người nghe được nhưng bắt đầu qua tới 3,4 giọng thì ít ai nghe được.
Hỏi: Anh nghĩ sao về nhạc hợp ca như hiện nay Ngàn Khơi đang hát mà hòa âm phần nhiều là theo homophonic như anh nói.
Đáp: Tôi nghĩ là những nhạc Ngàn Khơi đang hát, phần điệp khúc tức Chorus thì thường là theo lối homophonic, còn phần nhạc lời thì có thể nói là như polyphonic tức có nhiều câu nhạc khác nhau.
Hỏi: Trong những lần tập hát vừa qua, tôi rất thích lối phân tích rõ ràng cách hát những nguyên âm, phụ âm trong tiếng Việt của anh sao cho tất cả mấy chục con người đều hát một cách đồng nhất khiến âm thanh rõ ràng, người nghe có thể nghe ra lời ca.
Đáp: Trong những buổi tập qua, tôi nghĩ những người thích thú là những người có 2 đặc điểm: thứ nhất là họ có đặt vấn đề thành công là quan trọng nên “mỗi giây phút đều là quan trọng”, và thứ hai là mỗi buổi tập họ phải học được cái gì mới hay ý tưởng mới. Trong những buổi tập hát, tôi đi qua rất nhiều vấn đề và bầy ra nhiều ‘món ăn’ mà những người cầu tiến sẽ tự lựa. Những người theo tinh thần lúc nào cũng phải có người cầm tay chỉ thì có thể sẽ thấy được ít cơ hội hơn. Người chưa biết nhạc và mới bắt đầu hát thì cần bền chí một chút vì tiến trình học có 2 thứ là ý thức được (conscious) và tiềm thức (subconscious). Đối với những người mới bắt đầu thì 2 tiến trình này khác nhau nhiều. Sự khác biệt này làm cho họ hơi nhầm nhưng nếu bền chí thì với thời gian 2 tiến trình này sẽ gần hơn và họ bắt đầu thấy dễ chịu hơn. Sau khi nhận thức được tiềm thức học được gì và ý thức học được cái gì, người ta sẽ thấy phấn khởi và muốn học tiếp hơn.
Về phương diện tiềm thức người ta có thể học rất nhanh, vì thế nhiều người không đi học hát nhưng nghe nhiều họ vẫn có thể hát hay. Nhưng về phương diện ý thức, người ta cần biết những cái quy luật khi hát nên khi chưa biết những cái quy luật này, họ không có gì bám víu vào để đánh giá những điều họ đã học được vì thế họ dễ trở nên nhầm lẫn. Thường phải mất 1 năm trước khi người ta biết rõ những cái quy luật để nhận biết được là họ đã học được những gì sau một buổi tập hát.
Hỏi: Theo tôi, hát hợp ca VN rất khó vì những nguyên âm. Người ta đã bàn cãi nhiều về chuyện hát nguyên âm dài ra hay ‘cắn chữ’ lại để người nghe rõ chữ hơn. Rất khó nghe rõ lời hát khi nghe hát hợp ca. Với lối phân tích và hát của anh có lẽ thính giả sẽ nghe rõ hơn.
Đáp: Thực sự ra nói về vấn đề thưởng thức, có nhiều cách. Đối với một người dùng não phải (right brain), lời hát đối với họ không thành vấn đề. Họ không nghe từng lời nhưng nghe nguyên bài nhạc xong, họ có một hình ảnh trong óc. Họ nghe lời để tạo thành một hình ảnh trong óc của họ rồi bài nhạc tạo nên một 'bối cảnh' cho cái hình ảnh trong óc họ. Cái bối cảnh và hình ảnh, hai cái đó tạo thành sự xúc động. Đối với người “right brain”, lời là phụ thuộc. Khi họ nghe 1 ban hát hát lời hát, lời cũng không thành vấn đề, họ không lập lại được nhưng cái ý tưởng, hình ảnh của bài nhạc và cái cảm xúc của bài nhạc quan trọng hơn. Rất nhiều người nghe nhạc bằng cách này hơn. Do đó, khi xây dựng một bài hát, nguyên âm phụ âm cũng quan trọng nhưng cái cảm xúc của bài hát quan trọng hơn. Còn đối với người “left brain” lời hát quan trọng hơn. Họ có thể nghe nhiều “lớp” nhạc (layers hay polyphonic). Đối với họ, 1 layer thì quá đơn giản. Nếu ban hát hát rõ lời, họ sẽ nhận ra được. Nếu là người biết chơi nhạc họ sẽ nhận 3 hay 4 voices.
(Hết bài trích dẫn)
Phải nói là nhạc trưởng Vũ Tôn Bình đã làm cho tôi hiểu rõ về hợp ca hơn và đã đem đến cho tôi một số kiến thức quí báu về hợp ca để về sau này tôi đã đem ra áp dụng rất hiệu quả khi tôi có dịp dẫn ca đoàn những năm gần đây. Những kiến thức này nằm im trong óc nhiều năm, bỗng một ngày trở thành sáng rỡ và rõ hơn bao giờ hết (học bằng “tiềm thức” như anh Bình đã nói trong bài?)
Ngàn Khơi, dưới sự hướng dẫn của nhạc trưởng Vũ Tôn Bình, đã tổ chức nhiều đêm nhạc hòa tấu hợp xướng thành công với dàn ca hùng hậu hơn 60 ca viên và dàn nhạc giao hưởng hơn 50 nhạc công: Trường Ca Mẹ Việt Nam, Mẹ Trong Lòng Người Đi, Mùa Hoa Nở…
Đường lối sinh hoạt mới
Có hợp thì cũng có tan. Năm 2014, nhạc trưởng Vũ Tôn Bình từ giã Ngàn Khơi để làm việc toàn thời gian cho một đại học và một nhà thờ.
Từ đây, Ngàn Khơi được sự hợp tác của nhiều ca trưởng vì ở thời đại mới, khó có thể kiếm được một ca trưởng dốc hết tâm sức cho một ca đoàn như Trần Chúc, Trần Anh Linh, Vũ Tôn Bình…
Vũ Tôn Bình để lại một nhân vật quan trọng, đó là cô Lee Lee Trương, học trò ruột của anh. Lee Lee Truong-Sawicki lúc này có bằng Cử Nhân B.A. về Giáo Dục Âm Nhạc chú trọng đến Thanh Nhạc-Hợp Xướng từ CSU, Fullerton, và có bằng chứng nhận về phương pháp giảng dạy Orff-Schulwerk Music and Movement for Children. Lee Lee chọn con đường âm nhạc và theo đúng con đường đi của thầy Bình, hiện là giáo sư dạy tại phân khoa Âm Nhạc của trường Santiago College. Cùng với Lee Lee, Ngàn Khơi đã xuất hiện trong nhiều chương trình ca nhạc của Trung Tâm Asia và SBTN, sát cánh cùng nhạc sĩ Trúc Hồ trình bày những bài hùng sử ca để nói lên lịch sử oai hùng của dân Việt Nam. Rất nhiều nhạc sĩ và khán giả được ấn tượng bởi cô nhạc trưởng trẻ măng trong chiếc áo dài đen vung lên từng nhát đũa điều khiển cả một dàn nhạc hòa tấu và dàn hợp xướng này. Ngàn Khơi cũng đã tổ chức vài chương trình nhạc với ca trưởng Lee Lee tại rạp hát quen thuộc của cộng đồng là Saigon Performing Arts Center. Tuy các chương trình Ngàn Khơi không còn qui mô lớn như xưa vì thời đại đã thay đổi khi số ca sĩ từ Việt Nam qua Mỹ tăng cao và các chương trình nhạc ngày càng lớn và thường có hơn, Ngàn Khơi vẫn đem lại nhiều xúc cảm cho các khán giả thân thương luôn ủng hộ hợp xướng.
Trần Mộng Thủy theo học dương cầm và chỉ huy hợp xướng tại California State University, Fullerton. Năm 1994, cô tốt nghiệp Cử Nhân chuyên ngành Sư Phạm Dương Cầm. Cô cũng đã theo học thanh nhạc dưới sự hướng dẫn trực tiếp của tiến sĩ Elizabeth Makino.
Mộng Thủy từng đơn ca với dàn nhạc giao hưởng trong các chương trình của Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ, Đêm Ngàn Khơi, và các chương trình vinh danh nhạc sĩ Phạm Duy và Cung Tiến. Mộng Thủy hiện nay là ca trưởng của ca đoàn Gloria thuộc giáo xứ Đức Mẹ LaVang và là giáo sư dương cầm tại Westminster Music School.
Ca trưởng Trần Mộng Thủy rất bận điều khiển các ca đoàn Công giáo hát lễ nên chỉ hợp tác ngắn hạn với Ngàn Khơi. Cô là một nhạc sĩ dương cầm và theo học chuyên về âm nhạc nên có thừa khả năng dẫn dắt ca đoàn. Có thể nói ca trưởng Mộng Thủy khó tánh không thua gì ca trưởng Trần Chúc. Cô rất kiên nhẫn tập đi tập lại những đoạn khó khiến các ca viên Ngàn Khơi thấy việc phục vụ nghệ thuật cũng đầy chông gai chứ không đùa. Đừng nghĩ mình chỉ hát “tài tử” mà không cố gắng. Ai cũng phải cần cố gắng vươn lên để đạt tới cái hay nhất của mình, thổi hồn vào bài hát.
Qua sự giới thiệu từ giáo sư P Q Phan của trường đại học Indiana, tôi được biết đến cô nhạc trưởng Nguyễn Bội Cơ. Cô Bội Cơ tốt nghiệp chương trình nhạc trưởng tại Học Viện Âm Nhạc Curtis ở Philadelphia và Trường Juilliard ở New York. Cô hiện là Phó Giáo Sư Âm Nhạc tại Trường Âm Nhạc Đại Học Redlands, chỉ huy chính của Dàn Nhạc Giao Hưởng và Opera của Đại Học Redlands.
Cô Bội Cơ còn rất trẻ, rất nhiệt tình và tỏ lòng sẵn sàng hợp tác với Ngàn Khơi. Không quản ngại đường xá xa xôi, cô đã “xuống” Little Saigon 2 tuần một lần để tập hát cho Ngàn Khơi. Tôi có dịp được học hỏi từ một nhạc trưởng chuyên nghiệp hành xử “đúng kiểu Mỹ”. Nhờ cô huấn luyện mà Ngàn Khơi có thể hát trong vở opera “The Tale of Lady Thị Kính” của PQ Phan, một cố gắng không nhỏ của Ngàn Khơi. Cô cũng hợp tác với Ngàn Khơi trong vài buổi nhạc tại Saigon Performing Arts Center. Tiếc thay, công việc của cô quá bận rộn, thêm gia đình gồm ông chồng và hai con nhỏ dưới 10 tuổi, khiến cô không thể tiếp tục sau 2 năm cố gắng. Tôi rất tiếc bị mất đi cơ hội học hỏi từ cô.
Là ca trưởng kỳ cựu của BHX Trùng Dương, anh Nguyễn Hoàng Hương đến Mỹ từ năm 2015 và lập tức được khẩn khoản mời về làm việc với Ngàn Khơi. Nguyễn Hoàng Hương sinh hoạt hợp xướng từ khi còn rất trẻ và được nhạc trưởng Trần Văn Quý chú ý đặc biệt và trao truyền những kinh nghiệm quí báu về hợp xướng.
Không tập hát cho ca viên thật tỉ mỉ kiểu Trần Chúc, anh Hương là người có tài thổi hồn vào những ca khúc nhờ lối kể chuyện sống động của anh. Qua những câu chuyện kể, anh Hương làm cho ca viên hiểu rõ thêm về ca khúc, những lời hát tượng hình, những đoạn nhạc xuất thần hay những phần hòa âm ảo diệu. Anh cũng đem theo gia tài quí báu những bài hát tiêu biểu cho âm nhạc Việt Nam được hòa âm bởi các tài năng âm nhạc Việt Như Hồ Đăng Tín, Vũ Văn Tuynh, Trần Văn Tín…Anh Hương đã điều khiển Ngàn Khơi trong nhiều chương trình nhạc tại Saigon Performing Arts Center.
Có bằng cử nhân Âm Nhạc từ UCI, Bùi Quỳnh Giao trau dồi thêm về chỉ huy hợp xướng và đã dẫn dắt Ngàn Khơi trong nhiều năm. Nhiệt tình với âm nhạc, Bùi Quỳnh Giao mở lớp về Solfege cho các ca viên cũng như những học trò khác và được học viên mến mộ đặc biệt.
Kết luận
Từ những ý tưởng thô sơ về một ban hợp xướng cho cộng đồng, Ngàn Khơi đã lớn mạnh không ngờ, trở thành một biểu tượng cho hợp xướng ở hải ngoại, và luôn sinh hoạt trong cộng đồng với những công trình âm nhạc khá qui mô nhờ sự làm việc tích cực của những nhân tài âm nhạc hải ngoại: Lê Văn Khoa với những sáng tác và hòa âm độc đáo; Trần Chúc với tài điều khiển cũng như tâm huyết giáo dục âm nhạc và hợp xướng cho nhiều thế hệ ca viên; Vũ Tôn Bình và các ca trưởng với lòng tận tụy cho hợp xướng…
Muốn xem và nghe những buổi nhạc của Ngàn Khơi, quí vị có thể vào YouTube tìm với hashtag Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi. Quí vị sẽ được toại nguyện vì hầu hết các ca khúc mà Ngàn Khơi từng hát và thu hình đều đã được những người ái mộ đưa lên YouTube. Riêng tôi, tôi rất hãnh diện là một phần của Ngàn Khơi, được học hỏi từ các ca trưởng và được sống trong âm nhạc gần như suốt cuộc đời để bây giờ có thể chia sẻ lại cho nhiều người khác, ôi thật là một ân sủng.
Như An, Memorial Day 5-29-2023